1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Toàn Quốc Vé máy bay đi Ấn Độ và Kinh tế Ấn Độ

Thảo luận trong 'Du Lịch' bắt đầu bởi rose99, 7/1/15.

Lượt xem: 92

  1. rose99

    rose99 Thành Viên Mới

    Tham gia:
    20/12/14
    Bài viết:
    215
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    16
    Giới tính:
    Nữ
    Đặt mua ve may bay di An Do gia re là điều mà nhiều du khách thường làm mỗi dịp nghỉ của mình hàng năm. Và để book được vé máy bay đi Ấn Độ nhiều người đã theo dõi và đặt vé rất sớm.

    Bảng giá vé máy bay đi Ấn Độ và vé máy bay đi các thành phố của Ấn Độ
    [​IMG]
    Bảng giá tham khảo ve may bay di An Do của Vietnam Booking

    Kinh tế Ấn Độ
    Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế vào năm 2013, nền kinh tế của Ấn Độ có GDP theo sức mua tương đương là 4.962 tỷ đô la Mỹ và có GDP là 1.758 tỷ đô la Mỹ. Ấn Độ có tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt 5,8% mỗi năm trong 2 thập niên qua, và đạt mức 6,1% trong giai đoạn 2011 tới 2012, Ấn Độ là 1 trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới.

    Tuy nhiên, Ấn Độ đều xếp hạng trên 100 thế giới về GDP danh nghĩa bình quân đầu người và GDP PPP bình quân đầu người. Cho đến năm 1991, tất cả những chính phủ Ấn Độ đều theo chính sách bảo hộ do chịu ảnh hưởng từ những nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

    Sự can thiệp và sắp đặt của nhà nước là phổ biến, tạo nên 1 bức tường lớn ngăn cách kinh tế Ấn Độ với thế giới bên ngoài. 1 cuộc khủng hoảng sâu sắc về cán cân thanh toán vào năm 1991 buộc đất nước phải tự do hóa nền kinh tế, kể từ đó Ấn Độ đã chuyển đổi chậm hướng về 1 hệ thống thị trường tự do với việc nhấn mạnh cả ngoại thương và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mô hình nền kinh tế của Ấn Độ trong thời gian gần đây phần lớn là tư bản chủ nghĩa. Từ 1/1/1995 Ấn Độ đã trở thành 1 thành viên của WTO.

    Theo số liệu vào năm2011 lực lượng lao động của Ấn Độ có 486,6 triệu. Lĩnh vực dịch vụ chiếm 55,6% GDP, lĩnh vực công nghiệp chiếm 26,3% và trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 18,1%. Những nông sản chủ yếu ở Ấn Độ làm lúa mì, lúa gạo, bông, hạt có dầu, đay, chè, mía, và khoai tây. Những ngành công nghiệp chính của Ấn Độ là viễn thông, dệt, dược phẩm, hóa chất, công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm, thiết bị vận tải, thép, xi măng, dầu mỏ, khai mỏ, phần mềm và máy móc.
    Năm 2008, Ấn Độ chiếm 1,68% giá trị ngoại thương toàn cầu. Tới năm 2011, Ấn Độ là nước nhập khẩu lớn thứ 10 và nước xuất khẩu lớn thứ 19 trên thế giới. Những mặt hàng xuất khẩu chính của Ấn Độ bao gồm những sản phẩm hàng dệt may, dầu mỏ, phần mềm, đồ kim hoàn, sản phẩm công nghệ, gia công đồ da thuộc, hóa chất.Những mặt hàng nhập khẩu chính gồm có đá quý, dầu, máy móc, phân bón, ngọc và hóa chất. Từ năm 2001 tới năm 2011, đóng góp của những mặt hàng hóa dầu và công nghệ vào giá trị xuất khẩu tăng từ 14% lên 42%.

    Mức lương theo giờ tại Ấn Độ tăng gấp 2 trong thập niên đầu của thế kỷ 21. Có khoảng 431 triệu người Ấn Độ thoát nghèo kể từ năm 1985, những tầng lớp trung lưu của Ấn Độ được dự tính sẽ đạt khoảng 580 triệu người khi tới năm 2030.
    Năm 2010, Ấn Độ xếp hạng thứ 51 về năng lực cạnh tranh toàn cầu và xếp thứ hạng 7 về trình độ phát triển của thị trường tài chính, xếp hạng 24 về lĩnh vực ngân hàng, xếp hạng 44 về trình độ phát triển trong kinh doanh và xếp thứ 39 về cách tân, đứng trước 1 số nền kinh tế tiến bộ.

    Năm 2009, 7 trong số 15 công ty gia công phần mềm hàng đầu thế giới đặt tại Ấn Độ, do vậy đất nước này được nhìn nhận là nơi gia công phần mềm thuận lợi thứ 2 sau Hoa Kỳ. Thị trường tiêu dùng của Ấn Độ hiện lớn thứ 11 trên thế giới, và dự kiến sẽ lên vị trí thứ 5 vào năm 2030.

    Đến cuối tháng 5 - 2012, Ấn Độ có 960,9 triệu thuê bao điện thoại, và sau quý đầu tiên của năm 2013, Ấn Độ đã vượt qua Nhật Bản để trở thành thị trường điện thoại thông minh lớn thứ 3 trên thế giới chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc.

    Ngành công nghiệp ô tô của Ấn Độ tăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, doanh số bán hàng nội địa tăng 26% trong giai đoạn 2009 tới 2010, và doanh số xuất khẩu tăng 36% trong giai đoạn 2008 tới 2009. Công suất điện năng của Ấn Độ là 250 GW, trong đó 8% là năng lượng tái tạo.

    Tới cuối năm 2011, ngành công nghiệp công nghệ thông tin của Ấn Độ tạo việc làm cho 2,8 triệu chuyên viên và tạo ra doanh thu gần 100 tỷ đô la Mỹ, tức bằng 7,5% GDP của Ấn Độ và đóng góp 26% kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ.

    Ngành công nghiệp dược phẩm của Ấn Độ nằm trong số những thị trường mới nổi quan trọng của công nghiệp dược phẩm thế giới. Vào năm 2020 thị trường dược phẩm Ấn Độ dự kiến đạt doanh thu 48,58 tỷ đô la Mỹ. Ấn Độ chiếm 60% thị phần ngành công nghiệp sinh dược phẩm.

    Mặc dù tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong những thập niên gần đây, Ấn Độ tiếp tục phải đối mặt với những thách thức về kinh tế và xã hội. Ấn Độ là nơi có số lượng người nhiều nhất sống dưới chuẩn nghèo quốc tế (1,25 đô la Mỹ/ngày) của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ này giảm từ 60% năm 1981 xuống 42% năm 2005.

    48% số trẻ em ở Ấn Độ dưới 5 tuổi bị thiếu cân, 1 nửa số trẻ em dưới năm tuổi bị suy dinh dưỡng mãn tính, và tại các như : bang Andhra Pradesh, Madhya Pradesh, Chhattisgarh, Bihar, Haryana, Karnataka, Jharkhand, và Uttar Pradesh, chiếm 50,04% dân số Ấn Độ, 70% số trẻ em từ 6 tháng đến 59 tháng bị thiếu máu.

    Kể từ năm 1991, bất bình đẳng kinh tế giữa các bang của Ấn Độ liên tục phát triển: sản phẩm nội địa ròng bình quân đầu người cấp bang của những bang giàu nhất vào năm 2007 gấp 3,2 lần so với những bang nghèo nhất. Tham nhũng tại Ấn Độ được cho là gia tăng đáng kể. Nhờ tăng trưởng mà GDP danh nghĩa bình quân đầu người của Ấn Độ tăng lên nhanh chóng kể từ năm 1991, tuy nhiên nólại luôn ở mức thấp hơn so với những quốc gia đang phát triển khác tại châu Á như Indonesia ,Malaysia, Philippines, Thái Lan, Iran hoặc Sri Lanka và được dự báo sẽ vẫn tiếp tục như vậy trong tương lai gần.