1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Toàn Quốc Triệu chứng và biến chứng bệnh trào ngược dạ dày

Thảo luận trong 'Linh Tinh' bắt đầu bởi phongkhamkt1, 26/2/16.

Lượt xem: 32

  1. phongkhamkt1

    phongkhamkt1 Thành Viên Mới

    Tham gia:
    1/10/15
    Bài viết:
    318
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản là tình trạng trào ngược từng lúc hay thẳng các chất từ dạ dày lên thực quản, bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà còn có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực quản, thậm chí dẫn tới ung thư. Có thể bạn quan tâm: benh sui mao ga co gay vo sinh khong

    [​IMG]
    I. Triệu chứng:

    1. Triệu chứng điển hình: triệu chứng tiêu hóa.

    - Trớ, ọc sữa: Biểu hiện ợ sau ăn, dễ xảy ra khi đổi thay phong độ.

    - Ói : biểu lộ tống thức ăn hoặc dịch bao tử, xảy ra một thời kì lâu sau ăn hay bú.

    - Nuốt khó và đau:

    + Ở trẻ nhỏ có biểu lộ quấy khóc vô cớ, bỏ bú, biếng ăn.

    + Trẻ lớn sẽ có cảm giác nóng rát sau xương ức, khó nuốt.

    2. Triệu chứng không điển hình: thường là triệu chứng về hô hấp và tai mũi họng.

    - Ho mãn tính: đặc biệt gợi ý trào ngược bao tử thực quản, khi cơn xảy ra lúc trẻ đang nô đùa, giảm đi hoặc biến mất khi trẻ tĩnh hay ngủ.

    - Bệnh viêm phế quản phổi tắc nghẽn.

    - Hen phế quản không rõ căn do.

    - Viêm xoang, viêm tai giữa… tái phát không rõ duyên do.

    3. Triệu chứng đáng lo ngại:

    - Đột tử ở trẻ nhũ nhi.

    - “Malasie”: Những cơn xanh tím đột ngột và thoáng qua. Những cơn nhịp nhanh hoặc chậm. Những cơn ngừng thở, tai biến dạng co giật…malasie nặng dạng doạ đột tử.

    4. Cận lâm sàng

    - Chụp bao tử thực quản có cản quang (TOGD: Transit Oeso- Gastro- Duodenal). Cho phép phân tích hình trạng thực quản và bao tử, qua đó có thể thấy thoát vị khe thực quản, ruột xoay bất toàn… nhưng không chứng minh được viêm thực quản, không đánh giá được trào ngược bệnh lý có hay không.

    - Nội soi tiêu hóa trên ( fibroscopie Oeso- Gastro- Duodenal . Cho phép khảo sát hình thể đường tiêu hóa trên giúp phát hiện các biến chứng như viêm loét thực quản, hẹp thực quản, thực quản Barrett.

    - Đo sức ép cơ vòng thực quản dưới ( Manometrie ). Cho phép đánh giá trương lực CVTQD, đặc tính sóng nhu động thực quản. Trên thực tại, phép đo này chỉ dùng ở những đơn vị chuyên biệt, nghiên cứu về cơ chế trào ngược.

    - Phép đo pH kế: là phương pháp tin tưởng hơn để chẩn đoán TNDD-TQ nhưng không xác định được các tổn thương thực thể do trào ngược.

    - siêu thanh: cho phép quan sát hình thể và động học của thực quản bụng - tâm vị, nó còn nghiên cứu những cơn trào ngược xảy ra đột nhiên sau ăn mà thường không được nhận biết bởi đo pH kế, nó còn có ích lợi là nhanh, rẻ tiền, ít chấn thương và không ăn tia X. Xem thêm: sùi mào gà có lây không

    II. Biến chứng

    1. Thực quản Barrett: Là tình trạng biến đổi biểu mô vảy thường ngày ở đoạn xa thực quản thành biểu mô trụ kiểu ruột dạng đặc biệt. Nguy cơ trở nên ung thư thực quản.

    2. Loét thực quản có thể gây XHTH.

    3. Hẹp thực quản.

    4. Ung thư hóa.

    5. Viêm phổi hít.

: chung cu