1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Thương tổn cách điều trị lạc nội mạc tử cung

Thảo luận trong 'Trò chuyện linh tinh' bắt đầu bởi ledatht, 8/9/16.

Lượt xem: 14

  1. ledatht

    ledatht Thành Viên Mới

    Tham gia:
    10/6/16
    Bài viết:
    45
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    6
    Giới tính:
    Nam
    Ở nữ giới trưởng thành, siêu âm vùng chậu là biện pháp có giá trị trong chẩn đoán u LNMTC ở buồng trứng. Tuy nhiên, hiếm khi gặp bệnh lý lạc nội mạc tử cung u LNMTC ở lứa tuổi vị thành niên. siêu âm có thân xác định các duyên cớ khác của đau vùng chậu như u/nang buồng trứng và bất thường đường sinh dục. Chụp cộng hưởng từ (MRI) có giá trị trong việc xác định các thương tổn thâm nhiễm sâu, sự liên hệ của ruột già, niệu quản cũng như các bất thường đường sinh dục. Tuy nhiên, kỹ thuật này có chi phí cao.
    [​IMG]
    Nội soi là “tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán LNMTC. Tuy nhiên, đối với khối u lạc nội mạc tử cung lứa tuổi vị thành niên, chỉ nên thực hành kỹ thuật này khi bệnh nhân không đáp ứng với biện pháp điều trị nội khoa (giảm đau và/hoặc thuốc ngừa thai uống). Thường gặp các tổn thương đỏ, trắng và/hoặc vàng-nâu hơn là tổn thương đen hoặc xanh.

    Ngoài ra, cũng cần xét nghiệm máu (β-hCG, công thức máu toàn phần, tốc độ lắng máu) để loại trừ có thai và viêm vùng chậu cấp hay kinh niên. CA-125 ít có giá trị ở lứa tuổi này vì bệnh thường ở thời đoạn sớm và hiếm khi gặp u LNMTC ở buồng trứng. Xét nghiệm nước đái toàn phần và cấy nước tiểu có thể giúp xác định duyên cớ đau từ đường tiết niệu.

    Chẩn đoán phân biệt

    Chẩn đoán phân biệt gồm các bệnh lý phụ khoa và các bệnh lý khác gây đau vùng chậu kinh niên.
    Các bệnh lý phụ khoa bao gồm thống kinh nguyên phát, bị lạm dụng dục tình, nang/u buồng trứng và bất thường đường sinh dục. Đối với các trường hợp đã có quan hệ tình dục, nên chú ý đến nguyên nhân dính vùng chậu (do viêm nhiễm vùng chậu).
    Các bệnh lý khác bao gồm hội chứng ruột già kích thích, viêm đại tràng, viêm ruột non.

    III. ĐIỀU TRỊ
    Việc chẩn đoán sớm và chuẩn xác có vai trò quan yếu trong việc điều trị triệu chứng và ngăn ngừa sự tiến triển thiên nhiên của bệnh. Điều này có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất sau này. Việc điều trị bao gồm dùng thuốc nội tiết, giảm đau, hỗ trợ ý thức, các liệu pháp bổ trợ và thay thế, tư vấn và phẫu thuật (lưu đồ 1). Vẫn còn nhiều bàn cãi về biện pháp điều trị tốt nhất cho lứa tuổi này. Cần giải thích cho bệnh nhân và cha mẹ của họ về những ưu, nhược điểm của biện pháp điều trị nội, ngoại khoa cũng như sự tái phát là vấn đề thường gặp.

    1. Điều trị nội khoa

    Thuốc kháng viêm non-steroid

    sử dụng các loại thuốc này (mefenamic acid hay diclofenac) có thể đem lại hiệu quả giảm đau ở một số bệnh nhân. Có thể kết hợp với thuốc ngừa thai uống để gia tăng hiệu quả điều trị.

    Thuốc ngừa thai uống dạng kết hợp

    Thuốc ngừa thai uống dạng kết hợp là sự lựa chọn trước nhất trong điều trị LNMTC ở tuổi vị thành niên. Việc dùng thuốc theo chu kỳ sẽ làm mỏng nội mạc tử cung, giảm lượng prostaglandin do nội mạc sinh sản ra, ức chế phóng noãn và các triệu chứng của LNMTC trong pha hoàng thể. Khi được sử dụng liên tiếp để ức chế kinh nguyệt, biện pháp này sẽ gây nên tình trạng “có thai giả”. Mặc dù có hiệu quả trong việc điều trị triệu chứng đau nhưng một tổng kết trên thư viện Cochrane cho thấy cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để xác định hiệu quả về mặt lâu dài. Ra máu thấm giọt là tác dụng phụ thường gặp. Số ngày ra máu khi sử dụng thuốc liên tục ít hơn so với việc sử dụng theo chu kỳ (Miller và cộng sự). bởi thế, các tác giả cho rằng sử dụng thuốc ngừa thai uống dạng phối hợp là biện pháp điều trị LNMTC an toàn và hiệu quả ở tuổi vị thành niên dưới 16 tuổi.