1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Toàn Quốc Nguyên nhân của bệnh viêm đại tràng mạn

Thảo luận trong 'Linh Tinh' bắt đầu bởi vthuyen221, 17/1/14.

Lượt xem: 152

  1. vthuyen221

    vthuyen221 Thành Viên Mới

    Tham gia:
    21/12/13
    Bài viết:
    63
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    0
    Nơi ở:
    thành phố hồ chí minh
    Nguyên nhân của bệnh viêm đại tràng mạn

    Bệnh viêm đại tràng mạn là bệnh do rất nhiều nguyên nhânkhác nhau hoặc không rõ nguyên nhân. Do nhiễm vi khuẩn, virut, nấm, ký sinhtrùng hoặc không do nhiễm như viêm loét đại tràng vô căn, bệnh crohn, xạ trị,thiếu máu. Bệnh có đặc điểm là gây ra hiện tượng viêm, loét và rối loạn chứcnăng của đại tràng.
    [​IMG]
    Trong phạm vi bài này, xin đề cập tới một số nguyên nhân thườnggặp của bệnh viêm đạitràng mạn.

    Viêm đại tràng do amip (lị amip): bệnh lây truyềntheo đường tiêu hóa. Kén amip đã trưởng thành theo thức ăn vào dạ dày, qua ruộtnon rồi từ đoạn cuối hỗng tràng đi vào đại tràng. Amip gây ra những tổn thươngviêm loét ở manh tràng, đại tràng và trực tràng. Bệnh nhân có những triệu chứngđi tiêu phân nhày lẫn máu kèm cảm giác mót rặn và đau bụng quặn từng cơn. Bệnhthường kéo dài và hay tái phát.
    Chẩn đoán dựa vào xét nghiệm phân để tìm amip, xét nghiệmhuyết thanh, nội soi đại tràng sinh thiết có thể thấy được những hình ảnh tổnthương loét đặc hiệu ở đại tràng. Việc điều trị tùy thuộc mức độ nặng nhẹ của bệnhmà dùng metronidazol uống hay iodoquinol để ngừa tái phát. Nếu nặng phải nhậpviện để điều trị bệnh viêm đạitràng mạn này.

    Viêm đại tràng do lao: Thường thứ phát sau lao phổi(50% bệnh nhân lao ruột còn hình ảnh lao khi chụp Xquang phổi). Cũng có thể gặplao ruột nguyên phát do bệnh nhân bị nhiễm khuẩn lao qua đường ăn uống. Bệnh diễntiến mạn tính với những triệu chứng nhiễm lao (sốt nhẹ về chiều, mệt mỏi, biếngăn, thể trạng suy sụp và rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy kéo dài, phân đờm nhớt vàcó máu). Bệnh có thể diễn tiến gây tắc ruột và lao màng bụng. Chẩn đoán dựa vàoxét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong phân, nội soi đại tràng sinh thiết cho thấynhững hình ảnh tổn thương và tìm tế bào điển hình của lao. Việc điều trị lao ruộtcũng phải theo phác đồ điều trị lao chung với các thuốc đặc hiệu như isoniazit,riafampin, pyrazinamid, ethambutol. Chú ý phải sử dụng đủ thuốc, đúng liều vàđúng phác đồ để tránh hiện tượng kháng thuốc. Theo dõi chặt chẽ tác dụng phụ củathuốc. Khi có biến chứng tắc ruột cần phải phẫu thuật cấp cứu.

    Viêm loét đại tràng vô căn: Bệnh không tìm thấynguyên nhân như vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm hay virut ở đại tràng. Nguyên nhâncó thể liên quan đến những rối loạn miễn dịch và xảy ra trên những bệnh nhân bịstress nặng. Triệu chứng bao gồm quặn bụng từng cơn, cảm giác mắc đại tiện cấpthiết, phân nhày máu kèm theo sốt, sụt cân. Ngoài ra, bệnh nhân còn có nhữngtriệu chứng đau do viêm các khớp hoặc viêm đốt sống. Bệnh có thể diễn tiến thủngruột hoặc phình đại tràng và ung thư hóa. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi đạitràng và sinh thiết. Về điều trị: cần cho bệnh nhân ăn thức ăn dễ tiêu, tránh sữa,dùng các thuốc chống tiêu chảy. Có khi cần sử dụng corticoid và thuốc ức chế miễndịch nếu bệnh nặng. Khi xảy ra biến chứng xuất huyết ồ ạt, nhiễm độc hoặc thủngđại tràng cần phải mổ cấp cứu. Chỉ định cắt toàn bộ đại tràng khi sinh thiết đạitràng thấy có tình trạng loạn sản hoặc không đáp ứng điều trị.

    Bệnh crohn: là bệnh không rõ nguyên nhân, rất thườnggặp ở Âu Mỹ. Ở nước ta hiếm gặp. Bệnh xảy ra ở cả ruột non và đại tràng, diễntiến mạn tính với các triệu chứng tiêu chảy, đau bụng, sốt, đau hố chậu phải, dễchẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa. Bệnh gây ra những tổn thương co thắt, phù nềvà xơ hóa gây hẹp lòng ruột dẫn đến tắc ruột, rò ruột, áp-xe và rò cạnh hậumôn. Việc điều trị tương tự viêm loét đại tràng.

    Ngoài ra, còn gặp một số trường hợp đặc biệt như viêm đạitràng trên bệnh nhân AIDS, do Chlamydia, lậu herpes simplex virut và viêm đạitràng sau xạ trị vùng bụng và chậu. Việc chẩn đoán và điều trị do những nguyênnhân này thường rất khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên cũng cần phân biệt với bệnhđại tràng chức năng, hội chứng ruột kích thích, viêm đại tràng co thắt… là nhữngbệnh chỉ gây rối loạn chức năng đại tràng nhưng không có tổn thương thực thể ởđại tràng.

    Phòng bệnh viêm đại tràng mạn: Đây là một bệnh thườnggặp, chẩn đoán nguyên nhân thường khó, phải điều trị và sẻ dụngthuốc chữa viêm đạitràng kéo dài vì bệnh hay tái phát, vì vậy phòng bệnh rất quan trọng. Đểphòng bệnh cần chú ý vệ sinh thực phẩm, ăn uống; không uống sữa bò tươi chưa tiệttrùng, tránh dùng kháng sinh kéo dài, điều trị tích cực khi bị lao phổi. Đặc biệtkhi thấy rối loạn đi cầu, phân đờm, cần khám chuyên khoa tiêu hóa để xác địnhnguyên nhân, lưu ý loại trừ bệnh ác tính ở đại tràng.
    Nguồn:benh viem dai trang