1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Toàn Quốc Lựa bỏ tâm vướng víu để thấy không chỗ trả về

Thảo luận trong 'Mua Bán Tổng Hợp' bắt đầu bởi nhankiet93, 23/8/16.

Lượt xem: 13

  1. nhankiet93

    nhankiet93 Thành Viên Mới

    Tham gia:
    12/7/16
    Bài viết:
    58
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    6
    Giới tính:
    Nam

    LỰA BỎ TÂM VƯƠNG VÍU CẢNH DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG CHỖ TRẢ VỀ

    Thầy A Nan nghe lời khuyên bảo thâm thiết của Phật sung sướng rơi nước mắt, vòng tay mà bạch Phật rằng: Tôi nghe diệu âm của Phật Pháp, dù nhận rõ chân tâm thể minh diệu vốn là gan ruột thường trú viên mãn, nhưng chỉ nhận trên pháp âm của Phật nói. Tôi đang dùng tâm vương víu cảnh duyên thỏa mãn lòng mến mộ Phật. Tôi cũng chỉ nhận thức được một cách mơ hồ chưa dám nhận đó là ruột gan vốn có của mình, mong Phật xót thương dùng viên âm dạy dỗ, nhổ gốc ngờ cho tôi được về với đường chánh giác.

    Phật bảo: Các thầy còn lấy tâm vương víu cảnh duyên mà nghe pháp, thì pháp đó cũng chỉ là pháp Tướng vương víu tạm thời, chưa phải nhận được chân pháp Tánh. Ví như có người lấy ngón tay chỉ trăng, người trí nương ngón tay để tìm thấy trăng. Nhưng nếu cho ngón tay là trăng, thì không những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất luôn cả ngón tay nữa, vì ngón tay mà đã tưởng là mặt trăng, thì cũng không biết thế nà sáng, thế này tối! Nay thầy lấy sự phân biệt pháp âm của tôi mà cho là tâm, thì lúc không có pháp âm, lẽ ra thầy phải còn phân biệt! Ví như người ngủ trọ, hết ngủ thì đi, còn chủ quán trọ thì vĩnh viễn ở luôn, không đi đâu nữa. Cũng vậy, nếu thật là tâm của thầy thì không đi đâu, tại sao rời âm thanh thuyết pháp của tôi, cái phân biệt của thầy không còn? Sự phân biệt về âm thanh đã vậy, sự phân biệt sắc, hương, vị, xúc, cho đến các phi sắc, phi không của pháp trần cũng vậy. Rời đối tượng phân biệt ra cái phân biệt của thầy phải thường còn, thì đó mới thật là tâm tánh của thầy. ngược lại, hễ đối tượng không có, phân biệt cũng không còn, thế là tâm tánh của thầy có chỗ trả về, như khách đến rồi đi, không còn là địa vị của chủ nhân thường trú.

    A Nan thưa: Bạch Thế Tôn! Nếu tâm tánh tôi có chỗ trả về, vậy cái chân tâm thể minh diệu Như Lai nói, vì sao lại không có chỗ trả về? Xin Phật thương tình vì chúng tôi khuyên bảo.
    Phật bảo: A Nan! Cái thấy mà thầy thấy tôi, dù không phải là chân tâm thể minh diệu, nhưng nó là tánh thấy tinh khiết chưa nhuốm trần lao. Nó như vành trăng thứ hai chứ không đến nỗi như bóng trăng đáy nước. Thầy hãy chín chắn lắng tai, nay tôi chỉ cho thầy cái nghĩa không chỗ trả về.

    [​IMG]

    A Nan! Đại giảng đường này mở rộng, phương Đông kim ô lên thấy sáng láng, đêm ba mươi không trăng mây mù thấy tối đen, chỗ có cửa mở thấy thông thương, chỗ có tường thấy ngăn bít, chỗ có phân biệt được thấy cảnh sắc, chỗ rỗng tuếch thấy hư vô, chỗ bụi cát tung lên thấy mịt mờ, chỗ mưa tạnh mây tan thấy quang đãng.

    A Nan! Thầy đã thấy các tướng biến hóa như vậy, nay tôi trả các tướng ấy về chỗ bản nhân của nó. A Nan! Cái sáng trả về cho thái dương vì không màng tang thì không sáng, bản nhân cái sáng thuộc về mặt trời, bởi vậy trả về cho màng tang. Tối đen trả về cho đêm ba mươi. Thông thương trả về cho cửa. Ngăn bít trả về cho tường. Cảnh sắc trả về cho phân biệt. hư vô trả về cho khoảng trống. mờ mịt trả về cho cát bụi. quang quẻ trả về cho mưa tạnh mây tan. Sự vật thế gian tuy nhiều, nhưng không ngoài các thứ đó. Còn cái thấy mà thầy thấy tám thứ đó, thầy định trả nó về đâu? Nếu thầy trả về cho sáng thì lúc không có sáng đáng ra thầy không thấy được tối. Nhưng trước mắt thầy, sáng và tối có sai khác, mà cái thấy của thầy thì không sai khác. Cái có chỗ trả về hẳn nhiên không phải là thầy, còn cái thấy chẳng thể trả về đâu, nếu không phải thầy thì là ai len vô đó?

    Vậy nên biết rằng: Tâm thầy vốn mầu nhiệm, thanh tịnh sáng suốt mà thầy tự mê mờ bỏ mất gốc, nhận chịu luân hồi, thường bị chìm đắm trong biển sanh tử. Thế nên Như Lai gọi các thầy là những người đáng thương!

    *
    * *

    TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG

    Nghe mà sanh lòng hoan hỷ, sung sướng rơi nước mắt là thành quả bước đầu Âm hưởng nhẫn của người môn đệ Phật. Sanh lòng ngưỡng mộ, nhận rõ chân tâm thể minh diệu qua pháp âm Phật, nhưng chỉ nhận một cách mơ hồ, đấy là hiện tượng Nhu thuận nhẫn được phát sanh. Chưa dám nhận chân tâm thể diệu minh là tâm địa vốn có của mình, vì thầy A Nan bấy giờ chưa thể nhập “Vô sanh pháp nhẫn”.

    Nghe pháp mà chỉ nghe bằng tâm vương víu pháp âm dù là pháp âm Phật, thì cũng chưa lắng tai được pháp Tánh thanh tịnh bản nhiên của vạn pháp vốn có ở lòng mình. Phải tự uống trà mới biết hương vị của trà ngon. Chỉ nghe nói trà ngon thì cái ngon và vị trà không có lẽ nào hiểu đúng. Nương ngón tay để nhìn trăng, chứ ngón tay không bao giờ là mặt trăng được.

    Dùng tâm phân biệt thu nạp pháp âm Phật, tâm đó không thể là chân tâm, vì nếu pháp âm không còn nữa thì cái tánh “thường trú” cũng đã mất theo, có lẽ nào thầy A Nan lúc bấy giờ đã trở nên người gỗ đá vô tri vô giác! Đối với sắc, hương, vị, xúc cũng vậy. Tiền cảnh lúc có lúc không, nhưng cái tâm thanh tịnh “Vô phân biệt” của con người không vì tiền trần mà theo sanh theo diệt. Phát hiện được cái tâm thanh tịnh “Vô phân biệt” vốn có của mình, Phật gọi đó là “Chân tâm thể thường trú”. Cái đó không có chỗ trả về.

    người đời, hiện tượng tuy nhiều, nhưng tóm thu không ngoài tám tướng: Sáng, tối, thông, bít, sắc, không, trong, đục.

    Tám tướng đều có thể trả về chỗ sở nhân phát sanh ra nó, nhưng tánh thấy của thầy A Nan nhận thấy tám tướng kia không thể trả về đâu. Rõ ràng cái tánh thấy ấy là của thầy A Nan chớ chẳng phải của ai khác. Tiền trần đối tượng có đến có đi, có sanh có diệt như người “khách”, cho nên ví “khách trần”. Nhận thức chủ thể thẳng tính hiện hữu như “chủ”, bởi vậy gọi: “Chân tâm thể thường trú”.

    Dù vậy, sự thường trú của tánh thấy chỉ là hiện tượng trình bày của chân tâm, chớ chưa phải chân tâm, nên ví vành trăng thứ hai chưa phải mặt trăng thật. Nói cách khác đó là chân tâm bên mặt hiện tượng tùy duyên. Chừng nào nhận thức và thể nhập bản thể bất biến của chân tâm mới gọi là người thấy được mặt trăng thật.

    Ô hô! Pháp hải u huyền trần tâm nan hội! Chân tâm hạo đảng như nguyệt lâm thủy diện, bát khai thủy diện, nguyệt hoàn thâm!


    >> Nguồn : http://kinhphatgiao.net/lua-bo-tam-vuong-viu-de-thay-khong-cho-tra-ve.html