1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Toàn Quốc Giới thiệu về tín ngưỡng dân gian Musok-kyo

Thảo luận trong 'Ẩm Thực - Giải Trí' bắt đầu bởi bom2319, 30/6/16.

Lượt xem: 24

  1. bom2319

    bom2319 Thành Viên Mới

    Tham gia:
    20/6/16
    Bài viết:
    11
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    1
    Giới tính:
    Nữ
    Khái niệm về Musok-kyo

    Theo như Thạc sỹ Phạm Hồng Thái (Viện nghiên cứu Văn hóa Đông Bắc Á), “Tín ngưỡng dân gian Musok-kyo”là một thuật ngữ được các nhà nghiên cứu Tôn giáo Hàn Quốc sử dụng, nhằm nói tới một loại hình tín ngưỡng đa thần hình thành và phát triển rộng rãi trong dân gian.

    Bắt nguồn từ Shaman giáo của Siberia cổ, được đưa vào Hàn Quốc qua những người dân nhập cư, trải qua một quá trình dài tồn tại trong dân gian, một phần bộ phận của Shaman giáo cổ giao thoa với Tín ngưỡng bộ tộc sẵn có, hình thành nên “Tín ngưỡng dân gian Musok-kyo”.

    Tín ngưỡng Musok-kyo là một loại hình tín ngưỡng chưa có tính hệ thống nhưng nó lại dễ dàng thấm sâu vào cuộc sống của người dân Hàn quốc từ thời xa xưa thông qua các câu truyện truyền miệng và phong tục tậpquán.


    Các đặc điểm của tín ngưỡng dân gian Musok-kyo

    a. Tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiênnhiên.

    Theo Tam quốc di sự2, tiền thân của đất nước Hàn Quốc là sự hợp nhất của các bộ tộc sinh sống trên bán đảo Triều Tiên.

    Do có nguồn gốc từ các bộ9lạc di cư, cư dân Triều Tiên cổ chịu ảnh hưởng lớn của tín ngưỡng thị tộc – một trong những tôn giáo xuất hiện sớm nhất. Theo đó, mỗi bộ tộc có một vật linh, một biểu trưng riêng, không chia sẻ với bộ khác. Đó có thể là một cái cây, con thú hay những gì thuộc về thiên nhiên. Những vật linh này được cho là có mối quan hệ họ hàng hay siêu nhiên với các thành viên của bộ tộc. Bởi thế nên, các vật linh này thường được bộ tộc tôn sùng, thờ cúng. Họ coi những vật linh này là những người anh em chung huyết thống với mình. Đồng thời, người ta sử dụng hình ảnh tượng trưng của các vật linh này để làm bùa cầu may, trừ tai họa. Chúng, đồng thời, được gắn liền với nhiều truyền thuyết, thần thoại, với nhiều mặt của cuộc sống thườngngày.

    b. Đề cao conngười.
    Ngay từ thủa sơ khai, người Hàn đã có quan niệm về hồn – xác. Trong đó, ngay cả khi thể xác mất đi thì linh hồn vẫn tồn tại. Người sống và linh hồn của người chết có mối quan hệ mật thiết, tương hỗ lẫn n10hau. Thế nên, từ lâu đời, người Hàn đã cóphong tục thờ cúng tổ tiên. Con cháu thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên bảo hộ, phù trợ, dẫn dắt con cháu. Trong đó, việc cúng giỗ là vô cùng quan trọng. Ngay chính trong thần thoại Tangun đã chỉ ra rằng, ngay từ thời đại của các bộ lạc thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với ngườiHàn..

    Gắn liền với thái độ thành kính đối với linh hồn tổ tiên, người Hàn quốc từ xưa đã rất coi trọng các nghi lễ thờ cúng không chỉ với ông bà tổ tiên mà còn là với các anh hùng dân tộc, với những người khai sáng đất nước…..

    Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nghi lễ Sangnye (tang lễ) và Cherye (thờ cùng)

    được coi là quan trọng nhất.

    Nghi lễ Sangnye được thực hiện khi có người mới mất, gồm các thủ tục khá phức tạp. Nó thể hiện lời từ biệt của người quá cố đối với người thân, đồng thời cũng thể hiện mong muốn người quá cố sớm được siêu thoát về thế giới bên kia, có mối quan hệ tốt đẹp với thần thánh bên kia, phù trợ và bảo hộ con cháu của những người còn sống.

    Nghi lễ Cherye bao gồm lễ Ch’arye, lễ Kije và Myoje. Bàn cúng cho các lễ này được sắp xếp theo nguyên tắc nhất định: hoa quả có màu đỏ ở viền đông, hoa quả màu xanh ở viền hướng tây, cá ở hướng đông, thịt phơi khô ở bên trái và sikke ở bên phải. Lễ Ch’arye thường diễn ra vào các dịp lễ đặc biệt như Seolnal, Hansik, Ch’usok và Tano. Lễ Kije được thực hiện vào nửa đêm ngày giỗ của từng người đã khuất (trong phạm vi bốn đời). Lễ Myoje là lễ tảo mộ người đãkhuất.

    c. Tôn thờ mang hơi hướng mêtín.
    Gắn liền với sự thờ cúng là các nghi lễ lên đồng, gọi hồn, hiến tế, bùa chú và ma thuật nhằm lợi dụng sức mạnh của linh hồn để đạt được ước vọng hoặc để trấn giữ, ngăn cản sự hoạt động của các linh hồn ác.

    Vào thời của những bộ lạc, nếu có thành viên mới gia nhập bộ lạc thì thành viên mới ấy phải nhận được sự chấp thuận của vật linh. Khi đó, vị thầy cúng tế của bộ tộc sẽ đứng ra làm lễ xin ý kiến của thần linh. Những nghi lễ này diễn ra với nhiều yêu cầu khá phức tạp. Vào ngày lễ tế, thầy cúng sẽ dâng lễ vật là thực phẩm, đôi khi còn là động vật hiến sinh. Trong khi cầu khấn, thầy thường hát hò, nhảy múa và cầu nghuyện bằng những âm thanh được coi là tiếng củathần.

    Trong các câu truyện cổ dân gian, những nghi lễ này được diễn ra khi có một sự kiện trong đại nào đó. Ví dụ như thần thoại Tangun, trước khi được trở thành người, Gấu đã phải ăn tỏi và cải cúc, tránh ánh sáng mặt trời trong khoảng thời gian yêu cầu như một nghi lễ thanh tẩy tà ma (do tỏi và cải cúc được cho là thực vật thiêng, có khả năng trừ tà). Hay như trong thần thoại Kaya, khi Trời báo điềm rằng quân vương củađất nước sắp xuất hiện, chín vị thủ lĩnh đã làm lễ thanh tẩy, rồi họ nhảy múa và ngước lên bầu trời mà hát bài hát chào mừng.