1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Dấu hiệu nhận biết viêm thực quản

Thảo luận trong 'Trò chuyện linh tinh' bắt đầu bởi phongkhamkt1, 27/2/16.

Lượt xem: 47

  1. phongkhamkt1

    phongkhamkt1 Thành Viên Mới

    Tham gia:
    1/10/15
    Bài viết:
    318
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    16
    Giới tính:
    Nam
    Cơn đau do thực quản hay dạ dày có thể xuất hiện dưới dạng cơn đau ngực hoặc đau bụng trên và mửa, khó phân biệt được với cơn đau và nôn do thiếu máu cục bộ hay nhồi máu cơ tim. Việc biểu lộ cơn đau, sự xác định các yếu tố nguy cơ tim, và sự sử dụng thích nghi một điện tâm đồ nơi các bệnh nhân trưởng thành với cơn đau loại nội tạng hay các nguyên tố nguy cơ tim, làm giảm thiểu những sai lầm lâm sàng. Xem thêm: mọc mụn ở vùng kín phụ nữ
    [​IMG]
    Nitroglycerin, các chất kháng axit và coctail vị tràng là những can thiệp điều trị chứ không phải là những trắc nghiệm chẩn đoán.

    Các bệnh nhân với co thắt thực quản có thể đáp ứng với nitroglycerin và các chất kháng axit, hay coctail vị tràng có thể mang lại ích lợi kiểu placebo cho những bệnh nhân với thiếu máu cục bộ tim.


    Ợ nóng là gì?

    Đau bỏng sau xương ức , có thể lan tỏa ra hai bên ngực, cổ hay hàm. Sự bộc lộ cơn đau có thể na ná với cơn đau của thiếu máu cục bộ tim.

    Ợ nóng là triệu chứng đặc trưng của viêm thực quản do hồi lưu và thường được làm nặng thêm bằng cách nghiêng mình ra trước hoặc nằm ngửa ngay sau bữa ăn. Cơn đau có thể được làm giảm bởi phong độ thẳng đứng, bởi chất dịch (gồm nước miếng và nước), hoặc, đáng tin tưởng hơn, bởi các chất kháng axít .

    Ợ nóng có nhẽ là do tính nhạy cảm được gia tăng của niêm mạc và có thể gây nên bằng cách truyền hydrochloric acid pha loãng (trắc nghiệm Berstein) vào trong thực quản.

    Điều trị viêm thực quản do hồi lưu (reflux esophagitis) như thế nào?

    Ngoài các chất kháng axít (antacids), các biện pháp tổng quát gồm có nâng cao đầu giường lên (4 inches), làm giảm thể trọng, và loại bỏ các nguyên tố làm gia tăng sức ép trong bụng.

    Các bệnh nhân nên tránh rượu, chocolate, cà phê, các thức ăn béo, bạc hà, nước cam vắt, hút thuốc, ăn và uống những lượng lớn, và vài thứ thuốc (anticholinergics hay calcium channel blockers).

    Các chất kháng axit sau các bữa ăn và H2-blockers (tỉ dụ cimetidine) trước khi ngủ thường hữu ích. Các trường hợp đề kháng có thể đáp ứng với sucralfate (Ulcogant) dùng trước các bữa ăn và metoclopramide (10 mg bốn lần mỗi ngày). Điều trị cần được đấu trong 6 tháng, và bệnh có thể tái phát chóng vánh.

    Nuốt đau (odynophagia) là gì? Đây có phải là một triệu chứng bình thường của bệnh hồi lưu dạ dày – thực quản?

    Nuốt đau (odynophagia) là một cảm giác đau dưới xương ức xảy ra khi nuốt. Không nên lộn lạo với khó nuốt (dysphagia). Nuốt đau hiếm khi do bệnh hồi lưu dạ dày-thực quản (gastroesophageal reflux disease).

    Thay vì thế, nuốt đau được gây nên bởi nhiễm trùng (candida, herpes simplex virus, và cytomegalovirus), do nuốt các chất ăn mòn (corrosive agents) hoặc do uống thuốc (tetracycline, vitamin C, sắt, quinidine, estrogen, aspirin, alendronate hay AINS), hay ung thư.

    nguyên do thực quản của nuốt đau.

    Nuốt đau (odynophagia) là một đặc điểm của viêm thực quản không phải do nguyên nhân hồi lưu. Viêm thực quản do nhiễm trùng (infectious esophagitis) là một căn nguyên thường nhật và thường xảy ra nơi những bệnh nhân bị suy giảm miễn nhiễm và có thể do nấm (tỉ dụ candida), siêu vi trùng ( tỉ dụ herpes, cytomegalovirus), vi khuẩn (ví dụ lactobacillus, bêta-hemolytic streptocoocus), hay ký sinh trùng.

    Những loại viêm thực quản không do hồi lưu khác gồm có bức xạ (radiation), chất ăn mòn (corrosive), thuốc, và vài bệnh toàn thân (tỉ dụ bệnh Behçet, bệnh Crohn, pemphigus vulgaris, hợp chứng Stevens-Johnson).

    Chứng nuốt đau không phai là triệu chứng thông thuờng trong viêm thực quản hồi lưu (reflux esophagitis) nhưng có thể xảy ra với loét thực quản (ổ loét Barrett). Có thể bạn quan tâm: hình ảnh sùi mào gà ở nữ giới

    Triệu chứng của nghẽn thực quản.

    Trừ trẻ em, thường có một bệnh sử ăn hoặc nuốt cái gì đó, tiếp theo sau là khởi phát đau ngực, nuốt đau (odynophagia), hay không thể nuốt được.

    Các vật lạ thường nằm ở một trong bốn chỗ sau đây: thực quản vùng cổ (cervical esophagus), cơ vòng thực quản trên (upper esophageal sphincter), cung động mạch chủ (aortic arch), và cơ vòng thực quản dưới (lower esophageal sphincter).

    Nghẽn do thức ăn có thể xảy ra bất cứ nơi nào có hẹp lòng thực quản vì co thắt hẹp (stricture), carcinoma, hoặc một vòng thực quản dưới (lower esophageal ring).

    Các vật tròn và cùn có thể được lấy đi bằng catheter Foley. Ống thông được đưa vượt quá vật lạ rồi quả bóng được bơm lên, sau đó rút nhẹ catheter với bệnh nhân ở phong thái đầu cúi hẳn xuống. Thủ thuật này thường được thực hành với soi quang tuyến.

    Các vật lạ, đặc biệt là các vật sắc bén (thí dụ : kim), thức ăn bị kẹt hoặc các vật chẳng thể lấy đi được bằng phương pháp Foley, tốt nhất được lấy đi bằng phương pháp nội soi. Tiêm tĩnh mạch glucagon (0,5 đến 2 mg) có thể làm giảm bớt nghẽn thức ăn ở thực quản dưới nơi khoảng 1/3 bệnh nhân.

    nguyên cớ gây thủng thực quản? Làm sao chẩn đoán và điều trị?

    Thủng thực quản, một cấp cứu thật sự, có thể gây nên bởi tổn thương do thầy thuốc, trong lúc thao tác phương tiện, do chấn thương (thường nhất là chấn thương xuyên), gia tăng áp lực trong thực quản do mửa dữ dội (Hội chứng Boerhaave), hay các bệnh của thực quản, tỉ dụ như viêm thực quản do ăn mòn (corrosive esophagitis), loét, ung thư. Thủng thực quản có thể gây đau ngực, thường nghiêm trọng và có thể nặng thêm khi nuốt và thở.

    Chụp X quang ngực có thể thấy khí trong trung thất (mediastinum), màng ngoài tim (pericardium), khoang phế mạc (tràn khí màng phổi : pneumothorax), hoặc mô dưới da. Thủng thực quản có thể dẫn đến rò dịch bao tử vào trong trung thất và nhiễm trùng thứ phát (viêm trung thất : mediastinitis).

    Chẩn đoán được công nhận bằng cách nuốt và rò chất cản quang. Điều trị gồm có kháng sinh có kháng khuẩn phổ rộng, hút bao tử, và giải phẫu sữa chữa hoặc dẫn lưu càng sớm càng tốt.

    - Thủng thực quản là một cấp cứu thật sự với một tỷ lệ tử vong cao, bất kể nguyên do là gi.

    - thương tổn do bác sĩ (iatrogenic injury) (nguyên cớ bình thường nhất) chiếm 75% các trường hợp thủng thực quản.

    - Hội chứng Boerhaave là một hội chứng lâm sàng được xác nhận : thủng sau khi mửa và chiếm 10-15% các trường hợp.

: chung cu