1. Xin lưu Ý! Các thành viên vui lòng kiểm tra lại bài trùng lặp của mình và xóa chúng ngay khi đó. (Mỗi thành viên hãy dành 5 phút thời gian của mình để kiểm tra lại các lỗi đăng bài trùng lặp trước đây và xóa chúng khỏi diễn đàn). BQT xin được gửi lời cám ơn trân thành tới các thành viên!

Toàn Quốc Các loại đồ ăn hõ trợ điều trị tim mạch

Thảo luận trong 'Mua Bán Tổng Hợp' bắt đầu bởi HoangAnhlcvn, 28/3/14.

Lượt xem: 119

  1. HoangAnhlcvn

    HoangAnhlcvn Thành Viên Mới

    Tham gia:
    28/2/14
    Bài viết:
    38
    Được thích:
    0
    Tín dụng:
    0
    Nơi ở:
    Long An
    Có nhiều yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch trong đó có duyên do do chế độ ăn và lối sống. cho nên, yếu tố dinh dưỡng là khôn cùng quan trọng trong việc phòng và điều trị bệnh.
    Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm hút thuốc lá, thừa cân và béo phì, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường và lối sống ít vận động. Những người có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng xuất hiện các biến cố tim mạch sẽ cao hơn nhiều. Tuy nhiên, những nhân tố nguy cơ này có thể thay đổi và kiểm soát được, như ngừng hút thuốc lá, kiểm soát áp huyết, điều chỉnh rối loạn mỡ máu, kiểm soát cân nặng, tăng cường vận động… điều chỉnh chế độ ăn vẫn luôn là nền móng trong việc phòng và điều trị bệnh.

    QC: chuyên bán buôn những sản phẩm chức năng của thương hiệu nổi tiếng sản phẩm Unicity thực phẩm chức năng unicity công ty unicity thực phẩm chức năng thiên sư tiens công ty thiên sư tiens chuyên bán mỹ phẩm nuskin sản phẩm công ty nuskin usa

    Theo các nghiên cứu cho thấy việc thay đổi số lượng cũng như thành phần các chất dinh dưỡng (chất đa lượng, chất vi lượng) có trong khẩu phần ăn đều có ảnh hưởng đến tăng hay giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch bao gồm các nhân tố sau:

    [​IMG]
    Đây là mẫu, bạn có thể sửa lại ảnh, màu nền, kích cỡ của bảng tùy theo nhu cầu.

    Tổng năng lượng

    Béo phì là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch, đồng thời sự phân bố mỡ trong thân thể cũng là một nhân tố nguy cơ quan yếu, người béo bụng có nguy cơ cao nhất. Để đánh giá chừng độ béo phì, người ta dựa vào chỉ số BMI (được gọi là chỉ số khối, tính bằng trọng lượng thân thể chia cho bình phương chiều cao (kg/m[sup]2[/sup]).

    Những người béo phì ảnh hưởng đáng kể tới suy tim, nguy cơ suy tim tăng gấp đôi ở những bệnh nhân béo phì (BMI lớn hơn hoặc bằng 30kg/m[sup]2[/sup]) so với người không béo phì. thành ra giảm cân rất cần thiết đối với người béo phì và duy trì cân nặng ở mức BMI từ 18,5 - 24,9 kg/m[sup]2[/sup].

    [​IMG]
    tập tành kiểm soát cân nặng giúp phòng tránh nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

    Có thể tính đơn giản như: lấy chiều cao (cm) trừ đi 100, rồi đem số còn lại chia 10 nhân 9. tỉ dụ, một người cao 160 cm thì mức cân nên có là: (160 - 100)/ 10 x 9 = 54 kg.

    Nếu ăn quá mức cần thiết sẽ dẫn đến béo phì, các bệnh về chuyển hoá, đái tháo đường, tăng huyết áp… Người ăn quá mức tiêu hao thì sẽ tăng cân, ngược lại ăn ít hơn mức tiêu hao thì sẽ bị giảm cân. Nếu năng lượng ăn thăng bằng với năng lượng tiêu hao của thân thì cân nặng sẽ ổn định.

    Lương thực chính của người Việt Nam là gạo, tùy theo vùng miền còn có các loại lương thực khác như ngô (bắp) ở miền núi, cao nguyên; khoai ở đồng bằng; củ ở trung du, miền núi.

    Lượng gạo hàng ngày ở người trưởng thành nhàng nhàng là 300 - 350g, tương đương khoảng 6 bát (chén) cơm. Nếu ăn ngô, 1 bắp ngô tương đương 1 bát cơm, vậy lượng ngô khoảng 6 bắp. Nếu là khoai khoảng 6 củ lớn mỗi ngày.

    Chất béo (lipid)

    Số lượng và loại chất béo đều quan yếu. Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng, tổng lượng chất béo nên từ 15 - 20% tổng năng lượng trong ngày. Tuy nhiên loại chất béo dùng quan trọng hơn tổng lượng chất béo. Chế độ ăn có nhiều a-xít béo no (có nhiều trong mỡ, bơ, thức ăn nhanh, thức ăn công nghiệp được chế biến ở nhiệt độ cao) làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

    Trong khi đó axít béo không no làm giảm nguy cơ này, chất béo chứa axít béo loại này được tìm thấy ở dầu mè, dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt bắp, cá, hải sản… Khi thay thế axít béo no bằng axít béo không no có tác dụng làm giảm nguy cơ tim mạch. Các chuyên gia khuyên mỗi tuần nên có 3 - 5 lần ăn cá, hải sản, thay thế cá cho thịt. Đối với những người không thích ăn cá và hải sản có thể dùng dầu cá tự nhiên mỗi ngày 2 - 3g.

    [​IMG]

    Chất đường (glucid)

    Glucid gồm các loại chất bột, đường và chất xơ, là thành phần dinh dưỡng căn bản, chiếm khối lượng lớn nhất và cung cấp năng lượng nhiều nhất trong khẩu phần ăn. Thay thế axít béo no bằng lượng năng lượng từ axít béo không no hoặc glucid đều có tác dụng tốt để giảm nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch. Nguồn glucid trong thực phẩm: Gạo tẻ, khoai củ tươi, mì sợi, bánh mì, khoai củ khô; bột khoai khô; bánh phở; sắn tươi; bún; miến …

    Chất đạm (protid)

    Đạm thực vật có những ảnh hưởng có lợi cho sức khỏe so với đạm động vật, đặc biệt hệ trọng với tình trạng cholesterol máu. Các loại đậu. Những loại thực phẩm thuộc họ đậu như đậu xanh, đậu đỏ, đậu phộng… Rau có màu xanh đậm (như cải bó xôi, bông cải xanh) rất giàu đạm.

    Những nước lèo đạm đậu nành cao có tỉ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nước ăn nhiều đạm động vật. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo: để giảm các nguy cơ của bệnh tim mạch nên ăn các loại chế phẩm từ đậu nành như: Đậu phụ, giá đậu, nước đậu,…

    Chất xơ (fiber)

    Một số thành phần xơ có khả năng giữ nước cao và được gọi là xơ tan. Xơ tan có trong các loại thực phẩm như một số trái cây, nước trái cây (mận, quả mọng), bông cải, cà rốt, khoai tây, khoai lang, hành. Xơ tan có khả năng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch. ngoại giả, chất xơ còn gây cảm giác no giúp tránh ăn quá nhiều năng lượng gây tăng cân.

    [​IMG]

    Các vi chất dinh dưỡng

    Các vi chất dinh dưỡng như các vitamin và khoáng vật rất cần cho quá trình chuyển hóa trong thân. Khi thiếu vitamin B[sub]12[/sub], B[sub]6[/sub], axít folic làm tăng nguy cơ mắc bệnh huyết mạch. Nhưng trong chế độ dinh dưỡng hiện, hồ hết còn chưa cung cấp đủ các vi chất, do vậy cần được bổ sung các thực phẩm giàu vitamin (từ rau và trái cây).

    Ngoài ra các chất chống ôxy hóa cũng ảnh hưởng đến quá trình xơ vữa động mạch. Chế độ ăn có nhiều chất chống ôxy hóa (vitamin E, vitamin A, vitamin C, selen) có thể giảm tới 20 - 40% nguy cơ bệnh mạch vành.

    Bên cạnh đó các muối khoáng khôn xiết quan yếu trong chế độ dinh dưỡng, nhất là trong tim mạch. Natri (từ muối ăn) và các chất điện giải khác đều ảnh hưởng đến huyết áp. Khoảng 50% người tăng áp huyết có nhạy cảm với muối. Giảm lượng natri giúp dự phòng chứng tăng huyết áp và cũng được xem như một phương pháp điều trị bệnh tăng áp huyết. Khuyến cáo gần đây khuyên nên hạn chế lượng muối ăn vào dưới 6g/ngày bằng cách chọn những thức ăn ít muối và hạn chế ăn thức ăn đóng hộp, không ăn kèm muối khi ăn, tỉ dụ như khi ăn trái cây…

    trái lại, kali, magiê, canxi liên quan nghịch với áp huyết. Chế độ ăn đủ các vi chất này giúp làm giảm áp huyết. Để tăng cường các chất điện giải này bằng cách tăng cường ăn lượng rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, và các sản phẩm làm từ sữa ít béo.